Hiển thị các bài đăng có nhãn PHƯƠNG PHÁP ĐIỀU TRỊ. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn PHƯƠNG PHÁP ĐIỀU TRỊ. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 10 tháng 6, 2014

NHỮNG NGƯỜI BỊ KHỚP CÓ BIÊT HIỆN NHƯ THẾ NÀO

Ngày nay bệnh viêm khớp khá phổ biến và nguy hiểm hơn khi bệnh trở nên mãn tính. Đặc điểm của bệnh này thường không có triệu chứng bệnh lý rõ rệt ngay cả khi tình trạng khớp bị tổn hại có thể nhìn thấy được qua hình ảnh kiểm tra khi chụp X quang dẫn đến tình trạng khi bệnh mãn tính mới nhận ra. Để nhận biết mình có bị bệnh viêm khớp hay không bạn có thể xem các triệu chứng dưới đây.



1. Đau khớp khi vận động

Biểu hiệu của triệu chứng này là bạn có cảm giác các khớp bị đau khi vận động và hết đau khi nghỉ ngơi. Triệu chứng này thường là do bệnh viêm khớp đang âm thầm tiến triển có thể gây đau không ngớt, khi bị mắc chứng này bạn nên giới hạn vận động.
2. Cứng khớp vào buổi sáng

Dấu hiệu của triệu chứng này là bạn luôn cảm thấy các khớp của bạn bị cứng, đặc biệt thường bị vào buổi sáng, kéo dài khoảng hơn 30 phút, và giảm nhẹ sau khi nghỉ ngơi. Đây là một triệu chứng thông thường của bệnh viêm khớp mãn tính. Tình trạng cứng khớp này có thể làm giới hạn phạm vi hoạt động, mặc dù bạn có thể giúp giảm nhẹ bằng cách thực hiện việc vận động các khớp sau vài phút.
3. Sưng khớp xương

Biểu hiện của triệu chứng này là bạn thấy không chỉ ở khớp ngón tay, ngón chân bị sưng mà các khớp của bạn bị sưng. Theo các chuyên gia, tình trạng tổn hại khớp có thể thúc đẩy quá trình phát triển của chứng gai xương (osteophytes) gần các khớp, khiến khớp bị viêm sưng.
4. Khớp phát ra tiếng động khi di chuyển

Khi vận động hay di chuyển bạn có chú ý tới các tiếng động “lắc rắc” phát ra từ các khớp xương không? Bạn cần biết rằng, khi các khớp bị tổn hại có thể tạo ra tiếng động trong khi bạn vận động, do các đầu xương cọ sát với nhau. Nếu mắc phải triệu chứng này thì bạn đang ở giai đoạn đầu của bệnh viêm khớp rồi đấy.
5. Yếu cơ bắp xung quanh các khớp

Biểu hiện của triệu chứng này là các cơ bắp xung quanh các khớp tổn hại bị yếu dần đi và hay bị mỏi các cơ khi vận động .Việc ít vận động thường xuyên, lâu dài chính là nguyên nhân dẫn đến các cơ bắp ở quanh các khớp bị đau đó dần yếu đi.
6. Đau nhức và khó cử động tay

Biểu hiện của triệu chứng này là khó khăn trong việc buộc dây giày, xoay chìa khóa trong ổ, dùng dao và nĩa… Những khớp xương bị tác động có thể đỏ hơn vùng da xung quanh, khi chạm vào thấy đau và nóng.

Khi bị bệnh viêm khớp dạng thấp, rất nhiều khớp xương khác nhau ở bàn tay và cổ tay đều bị ảnh hưởng, khiến việc điều khiển bàn tay và ngón tay trở nên khó khăn. Viêm khớp dạng thấp là một căn bệnh đối xứng, nghĩa là cả hai bên của cơ thể, chân và tay đều có xu hướng bị ảnh hưởng cùng một lúc. Trong khi đó, nếu bị bệnh viêm khớp xương mãn tính, các khớp bị tác động thường không đối xứng.


Nếu bạn phát hiện mình đã bị mắc một trong những triệu chứng trên, đừng chần chừ mà hãy nhanh chóng gặp và hỏi ý kiến bác sĩ để lựa chọn phương pháp điều trị thích hợp nhất, nhằm giúp làm chậm lại tiến trình phát triển của bệnh viêm khớp mãn tính.

Thứ Ba, 3 tháng 6, 2014

NGUYÊN NHÂN GÂY THOÁI HÓA KHỚP

Bệnh khớp do nguyên nhân thần kinh là bệnh có những thay đổi về xương, khớp thứ phát do giảm hay mất cảm giác chi phối vì rất nhiều nguyên nhân khác nhau gây nên.

Bệnh còn có tên là bệnh khớp Charcot, do Charcot là người đầu tiên mô tả mối liên quan giữa một số bệnh khớp và triệu chứng mất cảm giác vào năm 1868.

Cơ chế của bệnh vẫn còn chưa rõ ràng. Tuy nhiên, nhìn chung đa số các tác giả cho rằng bệnh có liên quan đến rối loạn mất nhận cảm và cảm giác sâu cơ thể làm mất cơ chế tự bảo vệ dẫn đến các chấn thương tại chỗ tái phát liên tục, gây tổn thương hủy hoại, thoái hóa cấu trúc sụn, xương và phần mềm quanh khớp. Một số tác giả khác lại đề ra giả thuyết phản xạ mạch máu - thần kinh làm giãn mạch, tăng lưu lượng máu tại chỗ gây sung huyết, ứ máu dẫn đến tăng hoạt tính tiêu xương làm hủy hoại khớp, xương.

Nguyên nhân và triệu chứng

Nguyên nhân của bệnh khớp do nguyên nhân thần kinh có nhiều, hay gặp nhất là do bệnh đái tháo đường (ĐTĐ), giang mai biến chứng thần kinh (còn có tên là bệnh Tabes dorsalis) và bệnh rỗng tủy xương (Syringomyelia). Theo nhiều nghiên cứu trên thế giới, có tới 15% số bệnh nhân ĐTĐ, 10 - 20% số bệnh nhân giang mai và 20 - 25% số bệnh nhân rỗng tủy xương có biểu hiện bệnh khớp Charcot.


Đau khớp có thể xuất phát từ bệnh lý của dây thần kinh ngoại biên


Ngoài ra, triệu chứng bệnh còn gặp trong nhiều bệnh khác như sau chấn thương đặc biệt có chèn ép tủy sống hay tổn thương thần kinh ngoại biên, nhiều bệnh thần kinh di truyền khác, bệnh lý nhiễm khuẩn, do dùng corticoid, nghiện rượu, bệnh phong, bệnh nhiễm bột (amyloidosis), hội chứng Raynaud, cường vỏ tuyến thượng thận, bệnh hệ thống như xơ cứng bì, viêm khớp dạng thấp, trẻ dị tật bẩm sinh do mẹ dùng thuốc Thalidomide trong thời kỳ mang thai, rối loạn cảm giác cận ung thư…
Tỉ lệ mắc bệnh cũng như tỉ lệ tử vong phụ thuộc vào nguyên nhân, giai đoạn bệnh cũng như các biến chứng kèm theo, đặc biệt tiên lượng xấu hơn nếu có kèm nhiễm khuẩn phần mềm hay viêm xương, khớp nhiễm khuẩn.

Triệu chứng bệnh đa dạng, phụ thuộc vào nguyên nhân, giai đoạn của bệnh. Nhìn chung biểu hiện khớp bắt đầu xuất hiện muộn nhiều năm sau các biểu hiện thần kinh của bệnh chính, tuy nhiên lại tiến triển nhanh và hủy khớp chỉ trong vài tháng. Tùy nguyên nhân mà có các vị trí khớp hay gặp khác nhau: do bệnh ĐTĐ các triệu chứng chủ yếu ảnh hưởng tới khớp ở bàn chân và cổ chân; trong bệnh giang mai là khớp gối, háng và cổ chân; trong bệnh rỗng tủy xương ảnh hưởng tới cột sống và chi trên, đặc biệt ở khớp vai và khớp khuỷu. Thông thường biểu hiện ở một khớp (trừ khi ở khớp nhỏ bàn chân có thể ảnh hưởng tới vài khớp), không đối xứng. Triệu chứng khớp ban đầu thường nhẹ, tiến triển âm ỉ, tái phát từng đợt đặc biệt sau những chấn thương nhẹ. Đau khớp xuất hiện ở một phần ba số bệnh nhân nhưng thường là đau ít, nhất là khi so sánh với mức độ tổn thương khớp khá nhiều. Khớp sưng nhẹ, phù nề, sung huyết hoặc xuất huyết quanh khớp, sờ ấm hơn bình thường. Có thể tràn dịch khớp. Khớp có biểu hiện mất vững hoặc bán trật nhẹ. Ở giai đoạn muộn, đau có thể nặng hơn nếu hủy khớp tiến triển nhanh gây trật khớp hoặc có khối máu tụ, mảnh sụn hay xương vỡ nằm trong khớp. Khớp sưng, biến dạng nhiều do màng hoạt dịch khớp dày, do trật khớp hoặc gãy xương. Có thể gặp một số biến chứng kèm theo, đặc biệt hay gặp ở bệnh nhân ĐTĐ, như nhiễm khuẩn phần mềm quanh khớp, viêm khớp nhiễm khuẩn và cốt tủy viêm.

Chẩn đoán
Các xét nghiệm cận lâm sàng: chụp X-quang khớp bị tổn thương. Ở giai đoạn sớm có các dấu hiệu sau: hình mờ quanh khớp do sưng nề phần mềm kèm có thể tràn dịch khớp, hẹp khe khớp, đặc xương dưới sụn, canxi hóa phần mềm, bán trật khớp nhẹ, mất khoáng chất trong xương. Giai đoạn muộn hơn có biểu hiện: hẹp khe khớp nhiều, bề mặt diện khớp nham nhở, xơ hóa nhiều xương dưới sụn, mọc gai xương tân tạo, có những mảnh xương hoặc sụn canxi hóa trong khớp, trật khớp rõ. Đối với khối xương bàn chân có thể có hình ảnh tiêu đầu xa xương đốt bàn chân tạo hình ảnh thon nhọn giống đầu bút chì, hoặc phối hợp với hình ảnh mọc xương tân tạo ở xương đốt ngón chân giống như hình càng cua hoặc hình miệng chén ôm lấy đầu bút chì. Trên X-quang cần chẩn đoán phân biệt bệnh với các bệnh thoái hóa khớp, hoại tử xương, bệnh khớp lắng đọng tính thể canxi pyrophosphat, bệnh khớp do tiêm corticoid nội khớp, nhiễm khuẩn xương khớp…

Siêu âm khớp, chụp cắt lớp vi tính: không có vai trò trong chẩn đoán bệnh khớp do nguyên nhân thần kinh vì hình ảnh không đặc hiệu. Siêu âm có thể phát hiện dịch trong khớp, dày màng hoạt dịch, hẹp khe khớp, định hướng cho hút dịch làm xét nghiệm để chẩn đoán những trường hợp viêm khớp nhiễm khuẩn. Chụp cắt lớp vi tính có thể giúp đánh giá tốt hơn tổn thương vỏ xương, mảnh xương chết hay khí ở trong xương.

Chụp cộng hưởng từ, đặc biệt có phối hợp thuốc cản quang, có ích trong phân biệt tổn thương tủy trong bệnh rỗng tủy với các viêm tủy nhiễm khuẩn, viêm đĩa đệm đốt sống nhiễm khuẩn cũng như giúp chẩn đoán một số biến chứng nhiễm khuẩn xương, khớp ở vị trí khác ngoài cột sống.

Chẩn đoán xác định bệnh dựa vào tiền sử bệnh nhân có bệnh lý tổn thương thần kinh (như ĐTĐ, giang mai, phong, bệnh rỗng tủy…) trước đó nhiều năm, xuất hiện đau, sưng khớp với tiến triển từ từ tăng dần, có sự bất cân xứng giữa mức độ đau với tổn thương khớp, xương. Cần kết hợp với chụp X-quang để khẳng định chẩn đoán.

Chẩn đoán phân biệt với các bệnh thoái hóa khớp, bệnh gút, bệnh giả gút (khớp viêm do lắng đọng tinh thể pyrophosphat), viêm khớp nhiễm khuẩn, viêm khớp do bệnh tự miễn (viêm khớp dạng thấp, viêm khớp vảy nến…), viêm khớp phản ứng, hội chứng loạn dưỡng thần kinh giao cảm (hội chứng Sudeck). Ví dụ: trong giai đoạn sớm của bệnh khớp do nguyên nhân thần kinh, hình ảnh trên X-quang gần tương tự như trong thoái hóa khớp với tam chứng hẹp khe khớp, đặc xương dưới sụn, mọc gai xương ở rìa khớp, tuy nhiên tiến triển của bệnh nhanh hơn thoái hóa khớp, không cân xứng giữa mức độ đau khớp với tổn thương trên X-quang: mức độ đau ít hơn trong khi tổn thương trên X-quang nặng hơn. Cần đặc biệt chú ý phân biệt bệnh với bệnh nhiễm khuẩn xương khớp hoặc phát hiện nhiễm khuẩn xương khớp với tư cách là biến chứng kèm theo để có thái độ điều trị thích hợp.
Điều trị

Điều trị bệnh: điều trị nguyên nhân, đặc biệt khi phát hiện sớm, điều trị tích cực bệnh chính có thể làm chậm quá trình tổn thương khớp.

Điều trị bảo tồn: những trường hợp phát hiện sớm cần bất động khớp (bằng giày thiết kế chuyên dụng, bó bột hay dụng cụ nẹp ngoài…), hạn chế tối đa trọng lực cơ thể cũng như các lực ngoại cảnh tác dụng lên khớp tổn thương để bảo vệ khớp khỏi các chấn thương tiếp diễn, qua đó làm chậm tiến trình bệnh. Một số thuốc như biphosphonat (alendronat, pamidronat) hay hoóc-môn tế bào nang cạnh giáp là calcitonin cũng có tác dụng làm giảm đau, giảm sưng nề khớp cũng như tăng mật độ xương tại chỗ. Phối hợp các biện pháp vật lý trị liệu phục hồi chức năng chống loét do tì đè.

Trường hợp khớp tổn thương biến dạng nặng hay gãy xương có thể cần phải phẫu thuật nẹp vít bên trong xương, lấy bỏ các mảnh dị vật - các canxi hóa trong khớp, làm cứng khớp hay phẫu thuật thay khớp toàn bộ.

Thứ Bảy, 31 tháng 5, 2014

BỆNH GÚT NÊN KIÊNG NHỮNG GÌ

Dạo này tôi hay bị đau nhức các khớp ngón chân. Đi khám, bác sĩ nói tôi bị bệnh gút. Xin hỏi cơ chế sinh bệnh gút như thế nào và hạn chế dùng thực phẩm gì khi đã mắc bệnh?
Anh Trần Văn Thuận (Đông Anh)


Gút (Gout) là một trong những bệnh thấp khớp gây đau đớn, nhức buốt với các triệu chứng sưng, nóng, đỏ, đau và cứng khớp. Bệnh thường gặp ở nam giới độ tuổi từ 40-50. Nữ giới rất hiếm khi bị gút, nhất là trước tuổi mãn kinh.

Cơ chế sinh bệnh gút là chất uric axit tạo ra do phân hủy chất purine hay các thành phần đào thải của cơ thể. Bình thường uric axit tan trong máu và đào thải qua thận ra ngoài theo nước tiểu. Khi quá trình sản xuất ra uric axit ở cơ thể tăng, hoặc thận không đào thải được hết thì nồng độ uric axit sẽ tăng lên trong máu dưới dạng muối urat. Sự ứ đọng quá nhiều uric axit trong khoang khớp xương gây viêm, cũng có thể trở thành đám cứng ở dưới da quanh khớp và cả ở vành tai. Những yếu tố nguy cơ sinh bệnh như di truyền, nặng cân do ăn quá nhiều làm tăng lượng uric axit, nghiện rượu làm cản trở việc đào thải uric axit, ăn nhiều thực phẩm có chất purine, dùng các loại thuốc có thành phần salicylat hay acid salicylic... 

Có khoảng hơn 70% bệnh nhân gút thấy xuất hiện viêm đầu tiên ở khớp ngón chân cái, sau đó mới là khớp gối, cổ tay, cổ chân, khuỷu chân, tay... kèm đau nhức. Để chẩn đoán, ngoài việc xét nghiệm máu, người ta phải hút dịch khớp ra soi dưới kinh hiển vi, nếu có tinh thể mang tên monosodium urate thì bệnh mới được xác định chính xác. 

Khi đã mắc bệnh, những bệnh nhân bị gút phải tránh dùng rượu, vì rượu làm cho cơ thể bị mất nước, tăng uric axit trong máu; tránh ăn thực phẩm có chứa purine.

BỆNH VIÊM KHỚP VÀ CÁCH ĐIỀU TRỊ

Hàng năm, ở nước ta có khoảng 700-750 người mới mắc viêm khớp dạng thấp trên một triệu dân từ 15 tuổi trở lên, trong đó, khoảng 80% ở độ tuổi trung niên. Vậy làm thế nào để phòng ngừa, giảm thiểu sự gia tăng không ngừng của căn bệnh này là câu hỏi đang cần lời giải đáp.

Bệnh viêm khớp dạng thấp và cách điều trị mới
Đa số trường hợp viêm khớp khởi phát từ từ và tăng dần, nhưng có khoảng 15% bắt đầu đột ngột với những triệu chứng cấp tính. Trước khi dấu hiệu ở khớp xuất hiện, bệnh nhân có thể thấy các biểu hiện như sốt nhẹ, mệt mỏi, gầy sút, tê các đầu chi, đau nhức và khó cử động khớp khi ngủ dậy. Khoảng 2/3 trường hợp bắt đầu bằng viêm một khớp, thường là khớp nhỏ ở bàn tay, sau lan xuống khớp gối, bàn chân, cổ chân, ngón chân… đối xứng hai bên khớp, sưng đau, hạn chế vận động, ít nóng đỏ,… Các khớp viêm tiến triển nặng dần dẫn đến tình trạng dính, biến dạng khớp, thậm chí có thể gây tàn phế.
Viêm khớp dạng thấp là bệnh khó chữa

Viêm khớp dạng thấp là bệnh khó chữa khỏi, song có thể phòng các đợt viêm khớp tiến triển bằng việc dùng thuốc kết hợp với vận động, sinh hoạt đúng cách như: tránh đứng hoặc ngồi quá lâu; giữ tư thế thẳng, cân đối khi đứng, đi và ngồi; cầm nắm và cử động bàn tay, ngón tay, xoa bóp các khớp. Bệnh nhân cũng nên đi bộ hàng ngày, song cần nghỉ trong thời gian 5-10 phút sau mỗi giờ đi; nên nằm trên giường phẳng, chắc và ngủ đủ giấc.
Cách phòng ngừa và điều trị viêm khớp dạng thấp mới

Một bài thuốc nổi tiếng của y học cổ truyền được dùng rộng rãi và có hiệu quả cho bệnh viêm đau xương khớp, Viêm khớp dạng thấp được giới khoa học quốc tế quan tâm và tiến hành các nghiên cứu về bài thuốc này , thường thì y học phương tây không thực sự coi các dược liệu như gừng, nghệ hoặc tinh dầu thực sự là thuốc , mà coi chúng là những gia vị hoặc thứ trang điểm cho các món ăn thường nhật , thế nhưng thực tiễn lại cho thấy những dược liệu này có vai trò quan trọng trong điều trị bệnh . Hàng ngàn năm nay, y học cổ truyền phương đông đã kết hợp những dược liệu đó với nhiều loại cây cỏ khác trong điều trị các bệnh viêm đau khớp.

Trường thấp khớp học Hoa Kỳ đã nhóm họp để thảo luận về một thuốc thảo dược Artrex kết hợp 4 thành phần Withania somnifera (Ashwagandha), oswellia serrata (Salai Guggul), curcuma longa (Turmeric), Zingiber officinale (Dry Ginger). Hội thảo trình bày và thảo luận về nghiên cứu mù đôi có kiểm chứng với giả dược, được thực hiện tại Mỹ, có 90 bệnh nhân bị viêm xương khớp, tham gia vào nghiên cứu . Kết quả nghiên cứu cho thấy Artrex, đơn thuần là sự kết hợp giữa các thảo dược, nhưng đạt được kết quả đáng ngạc nhiên , nhóm bệnh nhân được sử dụng Artrex có tác dụng giảm đau rõ rệt so với nhóm không sử dụng Artrex . Nghiên cứu trên có đầy đủ cơ sở khoa học kết luận Artrex có hiệu quả tốt cho bệnh nhân Viêm xương khớp .

Trước đó , Một nghiên cứu lớn cũng được thực hiện với Artrex cho 182 bệnh nhân viêm khớp dạng thấp , và cũng được báo cáo tại trường thấp khớp học hoa kỳ danh tiếng. Kết quả báo cáo một lần nữa gây lên sự ngạc nhiên với các bác sỹ và thành phần tham dự hội thảo , Artrex một lần nữa thuyết phục thính giả trong buổi hội thảo trong việc điều trị viêm khớp dạng thấp . Artrex có tác dụng giảm đau đáng kể trong nhóm bệnh nhân bị Viêm khớp dạng thấp, ngoài ra thuốc còn có tác dụng giảm cứng khớp, gia tăng vận động, gia tăng chất lượng cuộc sống của bệnh nhân Viêm Khớp dạng thấp . Nghiên cứu cũng chỉ ra cho thấy Artrex làm giảm các chất trung gian gây ra viêm khớp dạng thấp như các interleukins.

Hai nghiên cứu lâm sàng ở trên được thực hiện tại Mỹ, và được báo cáo tại trường thấp khớp khớp học Hoa Kỳ danh tiếng , các báo cáo đều nhất trí là Artrex thực sự có hiệu quả đối với viêm xương khớp và viêm khớp dạng thấp, thêm nữa , đây là sản phẩm có nguồn gốc thảo dược thiên nhiên nên hoàn toàn không có tác dụng phụ và có thể sử dụng hàng ngày nhằm điều trị các bệnh về viêm đau, thoái hóa xương khớp .

Thứ Năm, 29 tháng 5, 2014

THOÁI HÓA KHỚP SỐNG CỔ VÀ PHƯƠNG PHÁP ĐIỀU TRỊ

Trong các bệnh lý liên quan đến xương khớp, bệnh thoái hóa cột sống là nỗi ám ảnh đáng sợ bởi nếu không điều trị kịp thời sẽ gây nhiều biến chứng nguy hiểm ảnh hưởng lớn tới chất lượng cuộc sống sau này. Bệnh thoái hóa cột sống và phương pháp điều trị luôn là vấn đề nhiều người quan tâm tới

Nguyên nhân gây bệnh thoái hóa cột sống

Hệ thống cột sống là hệ thống trục có chức năng nâng đỡ cơ thể, giúp cơ thể có thể thực hiện những động tác như cúi, ngửa, vặn mình, hệ thống cột sống phải cúi cong được do đó nó có

cấu tạo là các đốt xương xếp chống lền nhau, ngăn cách giữa các đốt xương là các đĩa đệm. Đĩa đệm có hình như cái đĩa, bao bọc bên ngoài là bao xơ dày và chắc, lòng trong của đĩa đệm là chất nhầy trông gần giống như lòng trắng trứng được gọi là nhân nhầy. Do tuổi tác hoặc do ăn uống thiếu dưỡng chất, chế độ sinh hoạt vận động không hợp lý sẽ gây nên tình trạng thoái hóa cột sống.

Thoái hóa tác động tới từng vị trị của cột sống, khi thoái hóa tác động tới đĩa đệm làm cho bao xơ của đĩa đệm trở nên dòn hơn chứ không còn dai, chắc như trước đây. Dưới rọng lực đè nèn của cơ thể làm cho các bao xơ rách, mở đường cho nhân nhầy bên trong thoát ra gây nên tình trạng thoát vị đĩa đệm.

Bệnh thoát vị đĩa đệm vùng cổ còn thoái hóa tác động tới các đĩa đệm vùng lưng thì gây nên bệnh thoát vị đĩa đệm vùng lưng. Khi các nhân nhầy bị thoát ra chèn ép vào hệ thống các rễ

thần kinh gây nên các triệu chứng đau lưng hay đau cổ… tùy thuộc vào vị trí bị chèn ép. Khi khối thoát vị phình lồi ra, lâu ngày sẽ kéo theo các màng xương cạnh nó mọc ra theo tạo

thành những vành xương mà trên phim X-Quang ta nhìn thấy trông giống như những mỏm gai nên gọi là gai cột sống.

Triệu chứng của bệnh thoái hóa cột sống:


Triệu chứng rõ nhất của bệnh là những cơn đau lưng xuất hiện thường xuyên, âm ỉ ngày này qua ngày khác, đau chủ yếu ở vùng thắt lưng và cổ gáy.

Cảm giác khó chịu kèm theo mất ăn, mất ngủ, gầy rộc đi, sức làm việc giảm sút và ảnh hưởng đến sinh hoạt chung của cả mọi người xung quanh.

Đôi khi có những cơn đau cấp tính khiến bạn cảm thấy nhói buốt, đau cả sang những vùng khác như vai, thần kinh toạ, đau hông và đùi đến mức không thể đi lại lâu được.

Cơn đau kéo dài từ gáy lan ra tai, cổ, ảnh hưởng tới tư thế đầu cổ, đau lan lên đầu, có thể nhức đầu ở vùng chẩm, vùng trán, đau từ gáy lan xuống bả vai, cánh tay ở một bên hay ở cả hai bên.

Khám chỉ thấy các cử động ở cổ bị hạn chế (nặng), có thể cảm giác cứng gáy, có điểm đau khi ấn vào các gai xương và các mỏm ngang của cột sống cổ, chụp X-quang cột sống cổ thấy mất đường cong sinh lý, hẹp đĩa liên đốt, biến dạng ở thân đốt, có các gai xương.

Với chứng thoái hóa đốt sống cổ ở cao, người bệnh còn có triệu chứng nấc, ngáp, chóng mặt.

Một số trường hợp nghiêm trọng có thể ảnh hưởng đến tủy sống và dây thần kinh liên chi, gây tê bì bàn tay, bàn chân. Nếu để lâu không chữa trị có thể dẫn đến teo cơ, bại liệt.

Phòng bệnh từ khi còn nhỏ và ngay trong cách thức sinh hoạt hàng ngày

- Các bậc làm cha, làm mẹ cần quan tâm đến con trẻ trong việc ăn uống sao cho đủ chất, học tập và thể thao đúng mức. Ngày nay, những yếu tố dễ dẫn đến thoái hoá cột sống sau này nếu không để ý từ khi còn bé là: trẻ có thể ngồi hàng giờ chơi games trước màn hình vi tính, xem tivi quá nhiều, ăn uống vô độ dẫn đến béo phì v.v…

- Với những người lao động trí óc, cứ ngồi làm việc khoảng 1 – 2 tiếng phải đứng dậy đi lại, tập một vài động tác có lợi cho lưng.

- Với người lao động chân tay, chú ý không mang vác quá sức. Với những vật quá nặng, không bao giờ được đứng cúi lưng để nhấc vật lên mà phải ngồi xổm xuống, nâng vật lên từ từ.

- Tập thể dục thường xuyên, đều đặn. Tập Thái cực quyền, bơi lội là rất tốt để phòng ngừa đau lưng do thoái hoá cột sống.

- Với phụ nữ có thai, việc luyện tập đúng phương pháp lại càng cần thiết để giúp cho cột sống thêm dẻo dai, tránh đau do phải đỡ thêm một phần trọng lượng lớn nữa ngoài cơ thể của chính người mẹ.

Bệnh thoái hóa cột sống và phương pháp điều trị

Về điều trị, tùy theo tình trạng bệnh mà có các biện pháp nghỉ ngơi, nằm ở tư thế thích hợp giảm đau. Các biện pháp không dùng thuốc có thể làm giảm đau và giảm co cứng cơ như các

bài tập thể dục thích hợp; điều trị vật lý trị liệu như tia hồng ngoại, sóng ngắn, tắm bùn nóng, tắm suối khoáng nóng; mát-xa, bấm huyệt tại vùng đau. Thuốc chống viêm giảm đau

hông steroid như diclofenac, meloxicam, piroxicam… kết hợp với thuốc giãn cơ như mydocalm, myonal, thuốc giảm đau đơn thuần paracetamol… dùng ngắn ngày, trong đợt cấp khi

bệnh nhân đau nhiều.

Các thuốc điều trị thoái hoá tác dụng chậm, ít ảnh hưởng đến dạ dày như glucosamin, chondroitin, diacerin… có thể dùng kéo dài. Nếu không đỡ có thể tiêm

orticoid loại nhũ dịch tại các khớp liên mấu sau hoặc tiêm ngoài màng cứng nhưng cần có chỉ định của bác sĩ chuyên khoa khớp trong điều kiện vô khuẩn tuyệt đối với liệu trình thích

hợp, tránh lạm dụng. Mặc áo nẹp cột sống cổ hoặc cột sống thắt lưng trong các trường hợp thoái hoá kết hợp trượt đốt sống gây mất vững cột sống. Chỉ định ngoại khoa trong các trường

Thứ Ba, 27 tháng 5, 2014

CÁCH CHỮA BỆNH XƯƠNG KHỚP

Đau xương khớp là một chứng bệnh thường gặp, xảy ra đột ngột do co cứng các cơ khi gặp lạnh, khi mang vác nặng, luyện tập thể dục thể thao, thay đổi tư thế hoặc giữ lâu một tư thế. Căn cứ vào tình trạng , nguyên nhân gây bệnh mà người ta có những cách điều trị phù hợp khác nhau

Xoa bóp, ăn uống… theo bệnh

Theo TS Hoa, người trên 40 tuổi, có dấu hiệu đau xương khớp, nên đi khám. Nếu thoái hoá khớp, phải điều trị ngăn chặn quá trình tiến trình thoái hoá và kèm thuốc giảm đau. Nếu loãng xương, giúp bệnh nhân có chế độ sinh hoạt và hoạt động tốt thì mới giảm đau được. Nếu chỉ uống vài viên thuốc giảm đau thì vô nghĩa, bởi hết thuốc sẽ lại đau lại.

Phụ nữ bị viêm khớp dạng thấp phải điều trị suốt đời bởi đó là bệnh tự miễn, một vài đơn thuốc giảm đau không thể khỏi bệnh. Trong bệnh viêm khớp dạng thấp, người bệnh phải dùng các thuốc điều trị cơ bản, các thuốc giảm miễn dịch nên phải có sự theo dõi thường xuyên của bác sĩ nhằm tránh tác dụng phụ đến chức năng gan, thận.

Đau khớp nhưng không sưng vẫn nên vận động, xoa bóp bình thường. Nhưng nếu đã viêm, sưng, nóng, đỏ, đau, có tràn dịch khớp thì nên hạn chế đi lại, không xoa bóp, bởi khi xoa bóp (hoặc kể cả châm cứu) sẽ kích thích phản ứng viêm khớp và làm tình trạng tràn dịch khớp trở nên trầm trọng. Lúc này nên dùng thuốc để hạn chế viêm theo đơn của bác sĩ rồi mới vận động.

Massage xoa bóp chỉ có tác dụng với người đau xương khớp đơn thuần có co cơ hoặc khi làm việc căng thẳng cần thư giãn. Những bệnh nhân cao huyết áp, có bệnh lý xương trầm trọng như: Loãng xương trầm trọng, xẹp đốt sống, tổn thương khớp nghiêm trọng không nên dùng giường massage. Nói chung, kể cả việc vận động và dùng giường massage cũng cần tham vấn ý kiến bác sĩ.

ỨNG PHÓ VỚI THOÁI HÓA KHỚP


qui luật tự nhiên khi về già

Thoái hoá khớp là một bệnh khớp thường gặp nhất ở người cao tuổi. Tuổi càng cao thì tỉ lệ mắc bệnh thoái hóa khớp càng tăng. Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), tỷ lệ mắc bệnh về khớp chiếm khoảng 0,3-0,5% dân số, trong đó có 20% là thoái hóa khớp. Ở nước ta, thoái hóa khớp chiếm khoảng 10,41% các bệnh về xương khớp.

Thoái hóa khớp là một trong những bệnh thường gặp ở người cao tuổ

GS.TS. Trần Ngọc Ân - nguyên trưởng khoa Cơ xương khớp- Bệnh viện Bạch Mai cho biết, thoái hóa khớp còn gọi là hư khớp.
Khi cơ thể về già sẽ có các biểu hiện: tóc bạc, răng rụng, da nhăn nheo, tai nghe nghễng ngãng và hư khớp... Đây là một qui luật không thể đảo ngược và chúng ta phải thừa nhận vấn đề này, không nên coi đó là bệnh.

Thoái hóa khớp chính là tình trạng già của khớp ở tổ chức sụn khớp. Khi về già quá trình phá hủy sụn khớp nhiều hơn hồi phục, do đó sụn khớp ngày càng mỏng đi... để trơ lại lớp xương ở bên dưới. Đây là lớp xương tự nhiên của tuổi già (không tránh khỏi).

Thoái hóa khớp gây đau, giảm vận động và biến đổi cấu trúc khớp dẫn đến tàn phế. Nếu được chẩn đoán sớm và điều trị sớm có thể làm chậm sự phát triển của bệnh, giảm triệu chứng đau, giúp người bệnh duy trì cuộc sống, hòa nhập với cộng đồng.
Các khớp hay bị thoái hóa là khớp gối, cột sống thắt lưng, cột sống cổ... Có nhiều yếu tố nguy cơ gây thoái hoá khớp.
Theo nguyên nhân, có thể phân biệt hai loại thoái hóa khớp: Nguyên phát (do sự lão hóa, xuất hiện muộn, thường ở người sau 60 tuổi, ở nhiều vị trí, tiến triển chậm và tăng dần theo tuổi) và thứ phát (phần lớn là do nguyên nhân cơ giới, gặp ở mọi lứa tuổi thường là dưới 40 tuổi, khu trú một vài vị trí nặng và phát triển nhanh).
Khi bị thoái hóa khớp thường có các biểu hiện lâm sàng. Đau âm ỉ, đau tăng khi vận động và giảm khi nghỉ ngơi làm hạn chế vận động có khi có phản ứng viêm như sưng, nóng, đỏ đau (hiện tượng này khỏi nhanh khi nghỉ ngơi), biến dạng hay lệch trục khớp... Ngoài ra, có thể có tiếng kêu bất thường lục cục, lạo xạo khi vận động... Chụp X quang có ba dấu hiệu cơ bản: hẹp khe khớp, đặc xương dưới sụn và mọc gai xương...

Ứng phó như thế nào?
Cho đến nay vẫn chưa có thuốc điều trị khỏi thoái hóa khớp. Các thuốc điều trị hiện nay nhằm mục đích điều trị các triệu chứng do thoái hóa khớp gây nên. Ngoài ra có thể phục hồi chức năng, hạn chế các tác động cơ giới quá mức ở khớp và cột sống để ngăn ngừa và phòng bệnh.

Các thuốc có thể dùng trong thoái hóa khớp như: các thuốc giảm đau chống viêm từ nhẹ đến nặng. Chỉ dùng (tiêm) corticoid vào khớp khi thoái hóa khớp có phản ứng viêm thứ phát: sưng, nóng, đỏ, đau. Việc dùng thuốc này cần phải do bác sĩ chuyên khoa chỉ định và thực hiện mà người bệnh không nên tự ý điều trị.


Các khớp hay bị thoái háa.
Về các thuốc có nguồn gốc thiên nhiên, theo GS. Hoàng Bảo Châu, nguyên Viện trưởng Viện YHCT Việt Nam, hiện có nhiều sản phẩm cũng có tác dụng tốt với THK.
Các sản phẩm này thường được chiết xuất từ vỏ tôm, cua, sò, sụn động vật (để phục hồi sụn khớp) hay từ mai rùa, mẫu lệ, thương truật (cung cấp các chất vi lượng, acid amin), các thảo dược có tác dụng giảm đau, hoạt huyết... như viên khớp tâm bình, glucosamin, chondroitin....
Các phương pháp không dùng thuốc như xoa bóp, bấm huyệt, tập vận động... để tác động vào các cơ, gân co cứng có tác dụng làm cho các cơ gân mềm ra, giảm đau cũng có tác dụng.

Trường hợp điều trị nội khoa không đạt kết quả hoặc có ảnh hưởng lớn đến chức năng cử động khớp có thể dùng biện pháp can thiệp phẫu thuật. 

Làm thế nào để THK chậm lại?

Theo GS Ân, trong cuộc sống hàng ngày nên tập luyện, vận động đúng mức, phù hợp với tình trạng sức khoẻ; Tuyệt đối không cho tăng cân (vì cứ nếu tăng lên 1 kg thì khớp phải chịu đựng sức nặng tăng gấp 5 lần); Chống các tư thế xấu trong lao động, sinh hoạt và tránh các tác động gây hại cho khớp như các động tác quá mạnh, đột ngột và sai tư thế khi bê vật nặng, mang vác, đẩy, xách, nâng...

Đối với trẻ em cần chữa sớm bệnh còi xương, chỉnh các dị dạng bất thường của khớp (bàn chân vẹo, chân chữ O, X ...) và cần phát hiện sớm các dị tật của xương, khớp và cột sống để có biện pháp sớm, ngăn ngừa thoái hóa khớp thứ phát

thuocchuabenhxuongkhoptotnhat.blogspot.com

GAI CỘT SỐNG NÊN KIÊNG ĂN GÌ

Gai cột sống là sự phát triển thêm ra của xương trên thân đốt sống, đĩa sụn hay dây chằng quanh khớp. Nguy cơ mắc bệnh này tăng theo độ tuổi và nam bị nhiều hơn nữ.



Bệnh nhân bị gai cột sống thường được khuyên theo kinh nghiệm dân gian thì nên kiêng ăn những đồ ăn chứa nhiều canxi như : thủy hải sản hay các loại sữa nhưng thực tế thì không phải vậy.

Theo các chuyên gia, điều này không có cơ sở vì 90% canxi chúng ta ăn vào được đào thải qua đường phân, chỉ có 10% được hấp thu vào cơ thể. Do đó, việc ăn thực phẩm giàu canxi sẽ không khiến gai mọc nhiều hơn. Mặt khác, canxi là nguyên tố cơ bản cấu thành xương nên việc hạn chế ăn thực phẩm giàu canxi sẽ khiến người bệnh dễ bị thiếu chất, loãng xương.

Hiện nay, xu hướng đang được nhiều bệnh nhân tin tưởng lựa chọn là dùng các sản phẩm nguồn gốc thiên nhiên, không gây tác dụng phụ, đã được khẳng định qua nhiều nghiên cứu khoa học. Các sản phẩm này với thành phần chính là dầu vẹm xanh có tác dụng tăng cường sức đề kháng và độ chắc khỏe của xương, kết hợp cùng nhiều thành phần khác như: thiên niên kiện, nhũ hương,… Chúng có tác dụng ngăn ngừa sự hình thành và phát triển của gai tại cột sống; giảm đau, cải thiện khả năng vận động, hỗ trợ điều trị gai cột sống và các bệnh liên quan đến cột sống, đĩa đệm.

TỎI GIÚP ĐIỀU TRỊ XƯƠNG KHỚP

Các kết quả nghiên cứu điều tra gần đây tại Trường Đại học Hoàng gia Luân Đôn và Đại học Đông Anglia đã phát hiện những phụ nữ tiêu thụ một chế độ ăn giàu hàm lượng allium như tỏi, hành và tỏi tây sẽ giúp làm giảm nguy cơ bị viêm xương khớp hông. Các kết quả nghiên cứu này đã nhấn mạnh rằng, chế độ ăn uống hàng ngày sẽ giúp bảo vệ chống lại viêm xương khớp hông và hơn thế nữa các hợp chất như allium được tìm thấy trong tỏi có khả năng phát triển thành thuốc điều trị viêm xương khớp hông.


Viêm xương khớp là hình thức phổ biến nhất của viêm khớp thường xảy ra ở người lớn và ảnh hưởng tới khoảng 8 triệu người ở Anh, đặc biệt là phụ nữ. Viêm xương khớp gây đau đớn và tàn tật do ảnh hưởng tới hông, đầu gối và xương sống ở người trong độ tuổi trung và cao niên. Cho đến nay chưa có thuốc điều trị hiệu quả. Do vậy, bệnh nhân viêm khớp thường phải thay khớp khi bị viêm khớp mạn tính.

TS. Williams, Trường Đại học Hoàng gia Luân Đôn cho biết, trong khi chúng ta vẫn chưa biết nếu ăn tỏi nhiều sẽ dẫn tới làm tăng hàm lượng của thành phần allium giúp phòng ngừa và điều trị bệnh viêm xương khớp hông. Do vậy, từ các kết quả nghiên cứu này, các bác sĩ có thể áp dụng và bổ sung chế độ ăn uống có hàm lượng allium cao như tỏi, hành và tỏi tây đối với bệnh nhân bị viêm xương khớp hông để giúp nâng cao khả năng phòng ngừa và điều trị viêm xương khớp hông.

Dương Hồng Quân

THẢO DƯỢC CHỮA BỆNH XƯƠNG KHỚP

Khớp gồm nhiều thành phần khác nhau: sụn khớp, bao hoạt dịch, dây chằng, cơ và gân cơ. Sụn khớp hay đầu xương bị tổn thương sẽ gây tăng ma sát hai đầu xương, dẫn đến tiến trình viêm. Các thao tác, cử chỉ từ nhẹ nhàng đến mạnh mẽ đều có sự tham gia của các ổ khớp. Vì vậy, khi ổ khớp bị viêm, các hoạt động của chúng giảm tầm hoạt động, gây cứng khớp, từ đó khiến bạn bị đau.
Viêm xương khớp khiến bạn rất đau đớn. Tuy nhiên, không có cách nào chữa trị hoàn toàn được căn bệnh này mà chỉ là giúp bạn bớt đau mà thôi. Hãy cùng khám phá những loại thảo dược sau đây để giảm hiện các triệu trứng của bệnh viêm xương khớp.

Nghệ

Rất nhiều các chuyên gia y tế đề nghị sử dụng nghệ để điều trị bệnh viêm khớp do đặc tính chống viêm của nó. Hiện nay rễ cây nghệ đã được các nhà khoa học sử dụng để làm thuốc chữa bệnh viêm khớp. Nếu bạn không thích uống thuốc, thì việc sử dụng nghệ trong những bữa ăn hàng ngày cùng là cách hiệu quả để hạn chế những cơn đau do viêm xương khớp gây ra.

Tuy nhiên, nếu quá lạm dụng loại thảo dược này nó có thể gây ra hiện tượng như rối loạn dạ dày hay làm trầm trọng hơn các vết loét. Đặc biết khi bạn đang có vấn đề liên quan đến túi mật thì tốt nhất không nên sử dụng loại thảo dược này, vì chúng có thể gây ra tình trạng xấu.


Cây tầm ma

Cây tầm ma là loại thảo dược thường xuyên được sử dụng để trị bệnh viêm khớp. Nước chiết xuất từ cây tầm ma có tác dụng giảm đau do viêm khớp xương gây ra. Hiện nay, trên thị trường cây tầm ma được triết xuất ở dạng nước và dạng mỡ, vì vậy việc sử dụng nó rất dễ dàng. Trong một số trường hợp, việc sử dụng cây tầm ma có thể sẽ gây ra tác dụng phụ nhẹ như phát ban ở một số người.

Gừng

Các chuyên gia y tế cho biết gừng có tác dụng rất lớn trong việc làm giảm các cơn đau, vì vậy nó cũng có tác dụng tuyệt vời trong việc giúp bạn loại bỏ các cơn đau của chứng viêm xương khớp. Tuy nhiên, trong một số trường hợp gừng có thể gây ra hiện tượng đầy hơi, ợ hơi và buồn nôn. 




Chất Bromelain

Bromelain sở hữu đặc tính kháng viêm, vì vậy nó có tác dụng rất lớn trong việc chống lại các viêm nhiễm liên quan đến viêm xương khớp. Chất Bromelain có rất nhiều trong quả dừa. Vì vậy, nếu bạn đang bị căn bệnh viêm xương khớp hành hạ thì ăn dừa thường xuyên là cách tuyệt vời để giảm các cơn đau.

Trên đây là những thảo dược đặc biệt tốt trong việc điều trị bệnh viêm xương khớp. Tuy nhiên, việc sử dụng liều lượng sao cho đúng với tình trạng bệnh của mình đòi hỏi phải có ý kiến của các chuyên gia. Vì vậy, hãy tham khảo ý kiến của các chuyên gia y tế trước khi sử dụng.

Chủ Nhật, 25 tháng 5, 2014

ĐIỀU TRỊ BỆNH KHỚP

Khi đó bệnh nọ sẽ ảnh hưởng tới bệnh kia, y học gọi là vòng xoáy bệnh lý.



Các thuốc tây điều trị bệnh xương khớp thường có tác dụng phụ ảnh hưởng tới hệ tiêu hóa, còn các bệnh tiêu hóa sẽ ảnh hưởng tới hấp thu một số chất dễ làm cho bệnh xương khớp phát sinh và tăng nặng.

Khi không may bị cả 2 bệnh cùng lúc thì việc điều trị bằng thuốc nào để không làm tăng ảnh hưởng của vòng xoáy bệnh lý này là điều cần thiết, giải pháp tối ưu là dùng các thảo dược. Hiện nay trên thị trường hai loại thảo dược chiếm ưu thế với bệnh xương khớp và tiêu hóa đó là “Tinh hoa Dưỡng cốt” và “Tinh hoa Đại tràng”.

“Tinh hoa Đại tràng” được bào chế từ các vị thảo dược có tác dụng kiện tỳ hóa thấp, chỉ tả thông tiện. Trong Đông y tỳ bị thấp tà là nguyên nhân chính gây bệnh tiêu hóa. Do đó “Tinh hoa Đại tràng” đặc biệt có hiệu quả với các trường hợp rối loạn tiêu hóa, viêm đại tràng cấp và mạn tính, kết quả điều trị thấy ngay từ những ngày điều trị đầu tiên.

“Tinh hoa Dưỡng cốt” được bào chế từ bài “Độc hoạt ký sinh thang” có từ đời Đường cách đây hơn 1000 năm. Là một tập hợp các vị thuốc có nguồn gốc thiên nhiên với tác dụng bổ Can Thận để bổ dưỡng xương khớp nhằm phòng và trị bệnh xương khớp, vì theo Đông y Can chủ cân, Thận chủ cốt tuỷ. Hơn nữa “Tinh Hoa Dưỡng Cốt” còn kết hợp Cao ban long cùng với Canxi và Vitamin D3 là những thành phần rất quan trọng cho sự điều hoà cân đối của xương và tăng dịch nhờn cho khớp, đó cũng là phương pháp chữa trị tận gốc của bệnh.

Tại trung tâm Y Dược Tinh Hoa trong gần 20 năm qua hơn 2 vạn bệnh nhân đã được chữa khỏi bởi các sản phẩm mang thương hiệu Tinh Hoa này. Trường hợp vợ chồng ông Trần Văn Bình và bà Đoàn Thị Mùi ở 14 ngõ 110 Nguyễn Hoàng Tôn, Tây Hồ, Hà Nội, chẳng những bị bệnh xương khớp mà ông bà còn bị viêm đại tràng mạn tính, bà thì bị thêm bệnh rối loạn thần kinh thực vật, ông thì bị thêm bệnh tiền đình, nhưng khi sử dụng các sản phẩm Tinh Hoa nay ông bà đã khỏe mạnh.

Tương tự, chị Trần Thị Ngọc Yên - 18B Trần Phú, Lương Khánh Thiện, TP Hải Phòng, ĐT: 0944946589, cũng vui mừng không kém sau khi sử dụng đồng thời “Tinh hoa Dưỡng cốt” và “Tinh hoa Đại tràng” vì chị đã bị bệnh đại tràng và thoái hóa xương khớp trên 10 năm.

Tất nhiên với những người chỉ bị một trong các bệnh trên thì việc điều trị sẽ dễ dàng hơn.

Công ty Y Dược Tinh Hoa LD Hàn Việt sử dụng công nghệ bào chế hiện đại dạng viên nang nên việc sử dụng “Tinh hoa Dưỡng cốt” và “Tinh hoa Đại tràng” rất dễ dàng. Mua “Tinh hoa Dưỡng cốt” và “Tinh hoa Đại tràng” cũng thuận lợi vì đã có bán ở khắp các tỉnh thành trong cả nước. Xem địa chỉ mua “Tinh hoa Dưỡng cốt” và “Tinh hoa Đại tràng” tại đây.

ĐIỀU TRỊ BỆNH KHỚP Ở DÂN VĂN PHÒNG



Các bệnh cơ xương khớp ngày càng gia tăng và là nguyên nhân hàng đầu gây tàn phế cho con người. Trước đây, loại bệnh này thường tập trung ở đối tượng cao tuổi nhưng hiện nay, dân văn phòng đang được khuyến cáo là đối tượng có nguy cơ bị các bệnh về cơ – xương – khớp ngày càng cao.

Bệnh lý cơ – xương – khớp

Tại các bệnh viện lớn của nước ta, số bệnh nhân đến khám về cơ xương khớp như loãng xương, thoái hóa khớp, thoái hóa cột sống… ngày càng đông trong đó những người ở trong độ tuổi từ 35 – 45 chiếm số lượng tương đối và chủ yếu là đối tượng làm việc văn phòng. Nhưng việc tới viện để khám định kỳ về bệnh lý cơ xương khớp chưa phải là thói quen của nhiều người nên khi các bệnh nhân đến khám thì đã có những biểu hiện rất nặng.
Dân văn phòng dễ mắc bệnh về xương khớp.

Bệnh lý cơ xương khớp có những triệu chứng diễn ra âm thầm hoặc chỉ là những cơn đau, mỏi ngắn nên mọi người thường có tâm lý chủ quan và bỏ qua, đặc biệt là đối tượng trẻ. Nhưng chính sự chủ quan này đã khiến không ít trường hợp bị tàn phế hoặc để lại di chứng nặng nề cũng như việc điều trị trở nên hết sức khó khăn.

Nguy cơ đối với “dân văn phòng”

Những người làm văn phòng thườn không được hấp thu ánh nắng mặt trời, hấp thu vitamin D do chỉ ở trong nhàm, không ra ngoài trời. Mặt khác, trong chế độ ăn uống không điều độ dẫn tới việc thiếu canxi làm ảnh hưởng tới quá trình hoạt động của cơ – xương – khớp.

Việc ít vận động hoặc vận động quá mức đều khiến khớp bị thoái hóa, “bệnh văn phòng” chủ yếu đau vai gáy, thoái hóa, thoát vị đĩa đệm cột sống cổ, đau thắt lưng. Việc ngồi ở tư thế gò bó cả ngày ở văn phòng, sử dụng máy tính thường xuyên về lâu dài khiến cơ bắp bị co cứng do phải làm việc vất vả để giữ tư thế cho cơ thể, tăng tải trọng lên cột sống, đặc biệt vùng cổ hay thắt lưng, khiến các đốt sống mọc gai, các đĩa đệm giữa các đốt sống bị thoái hóa sớm và thoát vị, chèn vào thần kinh. Thông thường độ tuổi trung bình khi bị thoái hóa khớp là 45 – 50 tuổi nhưng hiện nay dân văn phòng mới bước sang tuổi 35 đã gặp những triệu chứng của căn bệnh này. Để phát hiện và chẩn đoán loại bệnh này không khó nhưng biện pháp khắc phục triệt để nó thì vẫn là niềm mơ ước đối với những người bệnh.

Lý giải tình trạng trẻ hóa độ tuổi bị bệnh xương khớp, các chuyên gia cho rằng: “Thói quen lười vận động là một trong những nguyên nhân gây trẻ hóa nhóm người mắc bệnh thoái hóa xương khớp”. Trong cuộc sống hiện đại, làm việc gì cũng có máy móc và phương tiện hỗ trợ nên giới trẻ ngày càng ít vận động. Điều này khiến cho nhiều bộ phận trên cơ thể rất dễ bị thoái hóa chứ không riêng gì xương khớp.

Tư thế trong quá trình ngồi làm việc không đúng cũng là một nguyên nhân dẫn đến tình trạng thoái hóa khớp. Để khắc phục tình trạng bệnh, bệnh nhân bị thoái hóa khớp khi còn trẻ vẫn có cơ hội để phục hồi, do xương khớp chưa bị tổn thương nhiều. Nếu hoạt động thể lực nhẹ và nâng dần mức độ, kết hợp chế độ ăn uống cân bằng, cung cấp các thành phần dinh dưỡng cho sụn và tránh các thói quen có hại đối với khớp, ví dụ như ở khớp gối là ngồi xổm, leo cầu thang, khiêng vác nặng… thì bệnh tình có thể giảm, khớp có thể phục hồi. Đỉnh phát triển xương khớp của con người thường là tuổi 25 nên khi qua độ tuổi 25-30, mọi người nên quan tâm, phòng ngừa căn bệnh này. Cấu trúc mô sụn vốn được định hình nhờ mạng lưới collagen type II, mạng lưới này giúp sụn tăng độ bền, đàn hồi tốt và tăng tính dẻo dai. Quá trình lão hóa dẫn đến tình trạng các sợi collagen ngày càng cứng lại và bị tổn thương, sụn khớp sẽ dần trở nên xù xì và bắt đầu thoái hóa.Vì vậy, đảm bảo chất lượng và khối lượng collagen type II trong sụn khớp là khâu quan trọng để ngăn ngừa và điều trị thoái hóa khớp.


 Thạc Sỹ : Phung Hiếu

VIÊM KHỚP CÓ NHIỄM TRÙNG KHÔNG


Ngoài các loại bệnh viêm khớp nhiễm trùng do tụ cầu, lậu cầu, viêm khớp nhiễm trùng còn do liên cầu, viêm khớp do lao, viêm khớp do siêu vi..Đây đều là nhưng bệnh viêm khớp nguy hiểm và cần được điều trị sớm.
Viêm khớp do liên cầu

Viêm khớp cấp do liên cầu và phế cầu hiện nay ít gặp hơn do kháng sinh có hiệu quả trong điều trị các nhiễm trùng nguyên phát. Hiện nay trực trùng Gr(-) hay gặp hơn. Escherichia coli thường gặp nhất. Pseudomonas aeruginosa thường hay gặp ở bệnh nhân nghiện thuốc qua đường tĩnh mạch. Các khớp cùng chậu và ức-đòn thường hay bị ở những bệnh nhân này. Haemophilus influenzae thường hay gặp ở trẻ nhỏ dưới 8 tuổi.

Neisseria meningitidis cũng hay gây viêm đa khớp cấp. Khác với các viêm khớp nhiễm trùng mủ khác, triệu chứng đau khớpkhông phải là nổi bật. Các triệu chứng khớp thường xảy ra trong vòng tuần sau khi có triệu chứng toàn thân hay viêm màng não.

Triệu chứng viêm khớp cũng có thể xảy ra sau khi đã dùng kháng sinh và các triệu chứng khác đã được cải thiện. Viêm khớp cũng có thể là một biểu hiện của nhiễm trùng huyết do não mô cầu mạn tính. Ngược lại với viêm khớp do lậu cầu, viêm khớp do não mô cầu thường không đáp ứng nhanh với kháng sinh nhưng chúng thường ít khi để lại di chứng..

Những loại viêm khớp do vi trùng này trường hay gặp ở bệnh nhân rất trẻ, người già, bệnh mạn tính hay người suy giảm sức đề kháng cơ thể.
Chuẩn đoán bệnh

1. Xét nghiệm dịch khớp : cần thiết để chẩn đoán viêm khớp cấp do vi trùng. Bạch cầu thường tăng, thường > 50.000/ m L. Bạch cầu có thể không tăng trong tiến trình sớm của bệnh hay bệnh đã được điều trị. Glucose thường thấp. Nhuộm Gr thường có thể thấy vi khuẩn nhất là phế cầu trùng, tụ cầu và trực trùng Gr (-). Neisseria thường khó thấy khi nhuộm Gr, ngoại trừ khi có viêm khớp nung mủ thật sự, và chúng cũng khó nuôi cấy.

2. Cấy máu có thể thấy nhiễm trùng huyết.

3. X-quang ít thay đổi trong giai đoạn sớm của bệnh trừ khi có sự hiện diện một ở viêm xương tủy. Sau đó có thể thấy dấu hiệu phá hủy khớp

Viêm khớp do lao

Khám nghiệm lâm sàng

Lao khớp xảy ra do vi khuẩn lan truyền theo đường máu từ ở lao hoạt động ngoài khớp. Có bệnh nhân có biểu hiện viêm khớp,ở lao tiên phát có thể tiềm ẩn nhưng biểu hiện lao lan tỏa có thể rõ ràng.

Các khớp cột sống thường bị nhất, đặc biệt ở trẻ em và người trẻ (Bệnh Pott). Đau, sờ đau và co cứng cơ vùng tổn thương nhưng có thể không được chú ý ở trẻ em cho đến khi có biểu hiện bất thường tăng trưởng hay tư thế. Sự phá hủy tiến triển của đĩa đệm và thân đốt sống gây ra gù lưng. Các ổ áp xe mô mềm kế cận thường được hình thành có thể chèn vào rễ thần kinh hay gây chèn ép tủy.

Ở các khớp ngoại vi, bệnh thường ở một khớp lớn, đặc biệt là khớp hông và khớp gối. Thường có biểu hiện đau, sưng và giảm cử động khớp. Sưng thường không kèm cảm giác nóng và đôi khi được mô tả như ‘nhão’ do sưng bao hoạt dịch kèm tràn dịch lượng ít. Có thể có viêm bao gân cổ tay nhất là ở phía lòng bàn tay. Có thể có những đợt thuyên giảm và những đợt kịch phát và diễn biến của bệnh có thể chậm.
Cận lâm sàng

1. Dịch khớp:

Bạch cầu tăng và Glucose giảm nhiều. Đôi khi có thể phát hiện vi khuẩn khi nhuộm nhưng nên nuôi cấy. Nếu các xét nhiệm không cung cấp đủ thông tin cho chẩn đoán thì nên sinh thiết bao hoạt dịch.

2. X-quang:

Trong giai đoạn sớm của bệnh có thể không có bất thường hay chỉ thấy hình ảnh loãng xương khu trú và sưng mô mém. Khi bệnh tiến triển có thể thấy hình ảnh nhữngở khuyết và giảm mật độ của xương. Cuối cùng là hẹp và phá hủy mặt khớp. ở cột sống, các đĩa đệm ảnh hưởng đầu tiên sau đó là thân đốt sống làm xẹp một phần các đốt sống ở phía trước.

3. Điều tri:

Nếu điều trị sớm với thuốc kháng lao và bất động khớp tổn thương có thể là đủ. Ổ áp xe cần được dẫn lưu. Đôi khi nếu nghi ngờ có thể điều trị ngay mà không chờ kết quả vi trùng học để tránh phá hủy khớp.

Thứ Sáu, 23 tháng 5, 2014

NGUYÊN NHÂN CHÍNH GÂY ĐAU XƯƠNG KHỚP

Bệnh nhân có bệnh viêm khớp háng đôi khi có vấn đề về đi bộ. Chẩn đoán có thể khó khăn lúc đầu. Đó là bởi vì đau có thể xuất hiện ở những vị trí khác nhau, bao gồm cả vùng háng, đùi, mông, hoặc đầu gối. Cơn đau có thể đâm và sắc nét hoặc nó có thể là một đau âm ỉ, và hông thường là cứng.


Bệnh viêm khớp háng có thể xuất hiện đau ở đầu gối

Nguyên nhân của bệnh viêm khớp háng

Các nguyên nhân của viêm khớp háng không được biết đến.Yếu tố có thể góp phần bao gồm chấn thương khớp, tuổi ngày càng tăng, và là thừa cân .

Ngoài ra, viêm khớp háng đôi khi có thể được gây ra bởi các yếu tố khác:

-Các khớp có thể không hình thành đúng.

-Có thể có di truyền (di truyền) các khiếm khuyết trong sụn.

-Những người có thể được đặt thêm căng thẳng trên các khớp của mình, bằng cách thừa cân hoặc thông qua các hoạt động có liên quan đến hông.


Thừa cân là một nguyên nhân dẫn tới bệnh viêm khớp háng

Triệu chứng của bệnh viêm khớp háng

Nếu bạn có bất kỳ triệu chứng nào sau đây đối với háng của bạn thì bạn hãy nói chuyện với bác sĩ:

-Cứng khớp xảy ra như bạn có cảm giác vừa trải qua giấc ngủ dài và bước ra khỏi giường

-Cứng khớp sau khi bạn ngồi trong một thời gian dài

-Đau, sưng hoặc đau ở khớp hông

-Một âm thanh hay cảm giác (“lạo xạo”) của xương cọ xát với xương

-Không có khả năng di chuyển hông để thực hiện hoạt động thường xuyên chẳng hạn như đặt trên vớ của bạn.
Đau xương chậu là triệu chứng của bệnh viêm khớp háng

Những nguyên nhân trên đây là vô cùng cơ bản,chúng ta hoàn toàn có thể hạn chế và ngăn chặn chúng khi những biểu hiện triệu chứng là rất rõ ràng.Hi vọng với những kiến thức cơ bản mà chúng tôi cũng cấp cho bạn thì bệnh viêm khớp háng sẽ trở thành một vấn đề không đáng lo ngại nữa.

Phu Manh

XUA TAN NỖI ĐAU VỀ BỆNH KHỚP

Thuốc đặc hiệu còn gọi là các thuốc làm thay đổi bệnh khớp, tác động bằng cách ức chế các quá trình cơ bản gây viêm khớp trong các bệnh viêm khớp dạng thấp, viêm cột sống dính khớp và viêm khớp vảy nến.


Thuốc có thể có tác dụng ức chế giải phóng men lysozym (tiêu thể) bằng cách làm bền vững màng của lysosom, do đó làm giảm phản ứng viêm trong các bệnh khớp, thuốc chỉ có tác dụng khi dùng kéo dài nhiều tháng nên hay được dùng để điều trị duy trì, củng cố. Chỉ định trong bệnh lupus ban đỏ rải rác, viêm khớp dạng thấp, viêm khớp mạn tính thiếu niên thể đa khớp, các thể khác của bệnh tạo keo như xơ cứng bì, viêm da và cơ...

Nhóm thuốc quinolon có thể gây tác dụng phụ: rối loạn tiêu hóa, rối loạn tiền đình xuất hiện trong 3 tháng đầu; đục giác mạc, tổn thương võng mạc, sạm da, nhược cơ, rối loạn điều tiết mắt xuất hiện muộn hơn (sau 1 năm). Dùng kéo dài trên 2 năm có thể gây tổn thương võng mạc nặng không hồi phục. Cần chú ý khám mắt định kỳ nếu dùng thuốc quá 6 tháng.

Muối vàng

Cơ chế tác dụng có thể do ức chế men tiêu thể và khả năng hoạt động của đại thực bào, hiện nay được dùng để điều trị viêm khớp dạng thấp thể nặng không đáp ứng với các thuốc khác. Là loại thuốc điều trị cơ bản bệnh, có nhiều tai biến nên chỉ có khoảng 30% số bệnh nhân chịu đựng được thuốc.

Tác dụng không mong muốn có thể gặp là: dị ứng ngoài da, sốt cao, viêm niêm mạc tiêu hóa, viêm thận, giảm bạch cầu, tiểu cầu, thiếu máu. Cần theo dõi chặt chẽ khi dùng thuốc để kịp thời dừng điều trị.

D-Penicillamin hay dimethylcystein (Trolovol Kupren)

Cơ chế tác dụng có thể là do phá hủy phức hợp miễn dịch, yếu tố dạng thấp. Được dùng để chữa viêm khớp dạng thấp thể nặng, thể ngoan cố.

Tác dụng phụ: rối loạn tiêu hóa, dị ứng da, viêm thận, giảm bạch cầu, tiểu cầu... cần theo dõi chặt chẽ khi dùng thuốc.
Thuốc ức chế miễn dịch

Dựa vào cơ chế bệnh sinh của viêm khớp dạng thấp và các bệnh tạo keo là các bệnh tự miễn dịch, người ta sử dụng các thuốc ức chế miễn dịch để điều trị trường hợp nặng và không đáp ứng với các thuốc khác.
Methotrexat liều nhỏ: Do thuốc có cấu trúc tương tự acid folic nên nó tranh chấp với acid này tại vị trí hoạt động của nó trong quá trình tổng hợp pyrimidin dẫn đến giảm tổng hợp DNA. Ngoài ra, methotrexat có thể có tác dụng kháng viêm và ức chế miễn dịch. Sau 3 tháng nếu thuốc không có tác dụng thì ngừng. Thuốc gây tác dụng phụ: giảm bạch cầu, độc gan thận, tổn thương mô phổi.

Sulfasalazine: Là sự kết hợp của 5-aminosalisylic và sulfapyridin, có tác dụng ức chế hoạt hóa tế bào lympho B và ức chế hoạt hóa các tế bào tiêu diệt tự nhiên và yếu tố dạng thấp.

Leflunomide: Thuốc ức chế tổng hợp pyrimidin của con đường chuyển hóa novo. Dùng thuốc đơn độc hoặc kết hợp với methotrexat.

Cyclophosphamide: Thuộc nhóm ankylan, có tác dụng liên kết với acid nhân và protein bởi các mối gắn với phân tử lớn trong tế bào, thuốc còn ức chế phản ứng miễn dịch thứ phát. Chỉ định trong bệnh luput có tổn thương thận. Thường dùng với corticoid.

Cyclosporin A: Thuốc ức chế các pha ban đầu của sự hoạt hóa tế bào T, do đó ngăn chặn sớm sự ức chế các gen. Chỉ định trong các bệnh tự miễn, các thể viêm khớp dạng thấp, viêm khớp vẩy nến kháng thuốc. Dùng đơn độc hoặc kết hợp với methotrexat.

Azathioprin: ức chế tổng hợp purin, chỉ định trong bệnh luput, viêm mạch, viêm khớp dạng thấp.
Các thuốc trên thường dùng với liều trung bình và kéo dài từ 1-3 tháng. Chú ý nhóm thuốc này có nhiều tác dụng phụ nhất là các tai biến về máu, nên khi dùng phải theo dõi chặt chẽ.

Thuốc ức chế TNF

Yếu tố hoại tử khối u alpha (Tumor Necrosis Factor-alpha - TNF-alpha) là một protein do cơ thể sản sinh ra trong phản ứng viêm, trong phản ứng của cơ thể với chấn thương. TNF thúc đẩy quá trình viêm, sốt và các dấu hiệu có liên quan (đau, nhạy cảm đau và sưng) trong một số bệnh cảnh viêm gồm cả viêm khớp dạng thấp. Do đó, các thuốc ức chế TNF-alpha sẽ có tác dụng chống viêm, giảm đau, giảm sưng tại các tổ chức viêm và có thể làm chậm sự tiến triển của viêm khớp dạng thấp, viêm cột sống dính khớp và viêm khớp vẩy nến, đặc biệt là khi dùng kết hợp với methotrexate. Hiện tại có 3 chất ức chế TNF-alpha đã được dùng bao gồm etanercept, infliximab và adalimumab.

Thuốc ức chế Interleukin

Actemra: Ở bệnh nhân viêm khớp có sự tăng chất IL-6 (interleukin-6), một chất hóa học truyền tin tham gia vào phản ứng miễn dịch phá hủy ở trung tâm của viêm khớp. Actemra được dùng bằng dạng dịch truyền tĩnh mạch, là thuốc ức chế IL-6 đầu tiên dùng cho viêm khớp. Actemra được chỉ định cho bệnh nhân viêm khớp dạng thấp mức độ vừa và nặng không đáp ứng với một hoặc nhiều chất ức chế TNF. Actemra không dùng kết hợp với các thuốc ức chế TNF (cimzia, enbrel, humira, remicade và simponi) hoặc phương pháp trị liệu sinh học khác cho điều trị viêm khớp. Tuy nhiên, nó có thể được dùng kết hợp với các thuốc DMARD khác như methotrexate.

ĐIỀU TRỊ BỆNH KHỚP TẠI NHÀ CÓ HIỆU QUẢ KHÔNG

Thời tiết thay đổi thất thường và thói quen vận động đứng,ngồi, nằm, thể dục không đúng cách là những nguyên nhân khiến cho tỉ lệ mắc bệnh khớp ngày càng cao ở nước ta nhất là khi qua tuổi 30 ở cả nam và nữ. Để giúp mọi người bớt lo lắng và có cách thức điều trị dễ dàng, 
Khi chúng ta bị đau khớp, có hai triệu chứng khác nhau là đau do viêm khớp (viêm khớp cấp, viêm cột sống dính khớp…) hoặc đau kiểu cơ học (đau sau mổ, dị tật bẩm sinh,..)



Khi bị rối loạn vận động khớp chúng ta thường có cảm giác các hớp cứng và rất khó cử động sau khi thức dậy vào buổi sáng, hiện tượng này có thể kéo dài từ 1 tiếng đồng hồn hoặc hơn nhất là ở khớp cổ tay, bàn tay, khớp gối và cổ chân. Đây cũng là dấu hiệu đặc trưng của viêm khớp dạng thấp.

Bệnh khớp cũng là bệnh ảnh hưởng rất nhiều đến các cơ quan bên trong cơ thể:
- Nhịp tiếng nhanh, âm thanh từ nhịp tim không rõ
- Phổi có khối u ở đỉnh kèm theo hiện tượng sưng phù ngón tay
- Cột sống biến dạng có thể ở mức độ nghiêm trọng
- Viêm màng mắt.
Và gây ra các biến chứng bên ngoài như các trường hợp sau:
- Ban đỏ nổi trên da mặt có hình tròn hoặc dẹt và chúng tan biến cũng rất nhanh và không gây ngứa.
- Xuất hiện các hạt dưới da ở mặt duỗi của khớp, có kích thước vài mmđến vài cm và cũng mất đi nhanh chóng.
- Cơ mông vào cơ đùi teo nhỏ theo thời gian.

Ngoài ra bạn cũng có triệu chứng sốt, gầy sút, mệt mỏi kéo dài.

TPCN glumax 750 là một trong những sản phẩm được người tiêu dùng nhận định là có hiệu quả rất cao trong việc hỗ trợ điều trị các bệnh về khớp, giúp phục hồi và tái tạo mô sụn khớp, đảm bảo sự vận động linh hoạt của các khớp.

Sản phẩm chứa hơn 1500mg Glucosamin là một trong những thành phần giúp tái tạo các mô sụn vả làm nóng lại giúp khớp hoạt động trơn tru và có tác dụng giảm đau mà rất an toàn cho sức khỏe. Glumax 750 còn chứa một số thành phần như chondrotin, vitamin B1, vitamin B6.

Để sử dụng hiệu quả sản phẩm này, mọi người nên uống thuốc sau bữa ăn. Mỗi lần uống 1 viên. Ngày uống 2 lần.

ĐÔNG Y CHỮA BỆNH XƯƠNG KHỚP

1.Triệu chứng: Đau nhức khớp gối, đau nhiều về đêm, chân tay lạnh, da lạnh , Nguyên nhân do hàn thấp với tà khí xâm nhập mà gây nên bệnh.
Phép trị: Khu phong tán hàn, giảm đau trừ thấp.


Thuốc sắc:
Bài 1 :Nam tục đoạn 16g, rễ xấu hổ 20g, thổ phục linh 20g, kinh giới 16g, thạch xương bồ 12g, đậu đen (sao thơm) 24g, hà thủ ô 16g, đương quy 12g, huyết đằng 16g, quế chi 10g, thiên niên kiện 10g, chích thảo 12g. Cho các vị vào ấm, đổ 1 lít nước, sắc còn 350ml, chia hai lần uống trong ngày.
Bài 2 :Ngải diệp phơi khô 16g, cỏ xước 16g, cây và lá cối xay 16g, thổ phục linh 20g, đơn hoa 16g, kinh giới 16g, bưởi bung 16g, tục đoạn 16g, đinh lăng 16g, tang chi 16g, quế chi 10g, thiên niên kiện 10g, rễ xấu hổ 16g, xa tiền 12g, chích thảo 12g. Cho các vị vào ấm. đổ 1 lít nước, sắc còn 350ml, chia hai lần uống trong ngày (uống nóng).

Thuốc chườm : Lá ngải diệp 1 nắm, củ thạch xương bồ giã dập 24g, hai thứ trộn vào nhau sao nóng, dùng miếng vải gói thuốc lại chườm vào chỗ đau. Thuốc nguội thì sao lại để chườm tiếp. Công dụng: ôn kinh tán hàn, giảm đau trừ thấp.

Thuốc ngâm rượu: Rễ cỏ xước 20g, rễ xấu hổ 20g, rễ bưởi bung 20g, nam tục đoạn 20g, xuyên khung 20g, trần bì 12g, thủ ô chế 20g, kê huyết đằng 20g, tang chi 20g, đương quy 20g, táo nhân sao đen 20g, cam thảo 16g.

Cho tất cả các vị cho vào bình sành, đổ ngập rượu để ngâm, sau 12 ngày là có thể dùng được. Ngày uống 50-60ml chia 2 lần trước bữa ăn. Công dụng: khu phong tán hàn, chống viêm trừ thấp, thông hoạt kinh lạc.

2. Triệu chứng : Đau vai gáy, đau lan xuống một bên cánh tay , sờ vào da thấy lạnh, cơ ở vùng cổ bị co cứng, quay đầu rất khó khăn, toàn thân mệt mỏi, kém vận động. Chứng trạng này là do bị nhiễm lạnh, ảnh hưởng đến chức năng của kinh lạc, khí huyết trở trệ…

Bài thuốc:
Bài 1 :Rễ cúc tần 16g, nam tục đoạn 16g, cẩu tích 12g, phòng phong 10g, kinh giới 12g, đỗ trọng 10g, tần giao 10g, đương quy 12g, rễ tất bát 12g, quế 10g, cam thảo 12g, sinh khương 3 lát. Cho các vị vào ấm, đổ nước 1 lít, sắc còn 350ml, chia 3 lần uống trong ngày. Công dụng: ôn trung tán hàn, hoạt huyết thông mạch.
Bài 2 :Ngũ gia bì 16g, ngải diệp 16g, đơn hoa 12g, kinh giới 12g, thạch xương bồ 12g, hoa hồng bạch 5g, hà thủ ô chế 12g, cỏ xước 16g, rễ xấu hổ 16g, quế chi 10g, thổ phục linh 16g, xuyên khung 12g, đan sâm 12g, chích thảo 12g, lá lốt 12g, trần bì 10g. Cho các vị vào ấm, đổ 1 lít nước, sắc còn 350ml, chia 2-3 lần uống trong ngày. Công dụng: thông kinh hoạt lạc, tán hàn chỉ thống.

Trong khi dùng thuốc có thể kết hợp day bấm huyệt. Lần lượt day bấm vào các huyệt sau đây: thị huyệt, phong trì, hợp cốc, huyền trung. Bấm mỗi huyệt từ 5-7 phút, trong khi bấm nếu đến được đắc khí thì giữ cường độ lưu ngón tay lại, kéo dài thêm thời gian. Tác dụng : thông được kinh lạc, thông được dương khí, từ đó sẽ giảm đau rất nhanh.

3. Đau ở gót chân : Đau nhức buốt trong gót chân, càng giá lạnh càng đau tăng, nhìn bên ngoài không thấy sưng, bàn chân và cẳng chân lạnh. Bàn chân có cảm giác tê bì, đi lại khó khăn. Toàn thân mệt mỏi, ăn ngủ kém, ngại vận động.

Nguyên tắc điều trị: Tán hàn, trừ thấp, giảm đau, thông kinh lạc

Bài thuốc:
Bài 1: Cẩu tích 12g, bưởi bung 16g, đơn hoa 16g, thổ phục linh 20g, xấu hổ 16g, kinh giới 16g, tang kí sinh 16g, đẳng sâm 12g, quế chi 10g, thiên niên kiện 10g, xa tiền 12g, lá tre 12g. Sắc uống ngày 1 thang.
Bài 2 : Nam tục đoạn 16g, hà thủ ô chế 16g, ngưu tất 16g, cà gai leo 12g, rễ cúc tần 12g, thổ phục linh 16g, củ giềng 12g, rễ lá lốt 12g, ngũ gia bì 16g, ngải diệp 16g, quế chi 10g, thiên niên kiện 10g, sinh khương 4g, chích thảo 12g, hương nhu trắng 16g. Sắc uống ngày 1 thang.

Ngoài ra có thể dùng bài thuốc đắp: Vỏ cây gạo 1 nắm, cạo bỏ vỏ thô bên ngoài, sau đó cho vào cối đá giã nhỏ, trộn thêm đồng tiện vào, xào nóng để nguội bớt rồi đắp vào gót chân băng lại. Nên làm vào buổi tối trước khi đi ngủ.